Địa chỉ IP là số định danh của thiết bị trong mạng. DHCP tự động cấp IP và các thông số mạng cho thiết bị khi kết nối. DNS dịch tên miền dễ nhớ như ví dụ.com thành địa chỉ IP. Thiếu một trong ba thì máy có thể có mạng nhưng không vào được trang web.
Hình dung bằng một tòa nhà
Hãy coi mạng như một tòa nhà. Địa chỉ IP là số phòng, để dữ liệu biết gửi đến đâu. DHCP là lễ tân phát số phòng cho người mới đến. DNS là bảng chỉ dẫn: bạn nói tên công ty, bảng cho biết công ty đó ở phòng nào. Thiếu lễ tân thì không có số phòng, thiếu bảng chỉ dẫn thì bạn biết tên nhưng không tìm ra phòng.
Địa chỉ IP: công khai và riêng
IPv4 dùng 32 bit, viết dạng bốn số cách nhau bằng dấu chấm. IPv6 dùng 128 bit để có không gian địa chỉ lớn hơn nhiều. Trong mạng nội bộ, thiết bị dùng dải địa chỉ riêng (không định tuyến trên Internet) theo RFC 1918:
- 10.0.0.0 đến 10.255.255.255 (10.0.0.0/8)
- 172.16.0.0 đến 172.31.255.255 (172.16.0.0/12)
- 192.168.0.0 đến 192.168.255.255 (192.168.0.0/16)
Khi ra Internet, router dịch địa chỉ riêng sang địa chỉ công cộng bằng NAT. Kèm theo địa chỉ IP là subnet mask (mặt nạ mạng) và default gateway (cổng ra, thường là router).
DHCP: cấp địa chỉ tự động
Khi thiết bị vừa vào mạng, quy trình DHCP diễn ra qua bốn bước thường gọi là DORA: thiết bị gửi Discover, máy chủ DHCP trả Offer, thiết bị gửi Request chọn đề nghị, máy chủ xác nhận bằng Acknowledge. Máy chủ DHCP thường là router, cấp cho thiết bị địa chỉ IP, subnet mask, gateway và địa chỉ máy chủ DNS, trong một thời hạn thuê (lease).
Nếu không tìm được máy chủ DHCP, Windows có thể tự đặt địa chỉ dạng 169.254.x.x (APIPA). Thấy địa chỉ này nghĩa là máy chưa nhận được IP từ mạng.
DNS: danh bạ của Internet
Con người nhớ tên miền, máy tính cần địa chỉ IP. Máy chủ DNS dịch từ tên sang địa chỉ qua một hệ thống phân cấp: máy hỏi máy chủ DNS đã cấu hình, máy chủ này hỏi tiếp lên các tầng cao hơn nếu chưa biết, rồi nhớ lại kết quả (cache) trong một thời gian. Nhờ cache, các lần truy cập sau nhanh hơn.
| Thành phần | Nhiệm vụ | Dấu hiệu khi lỗi |
|---|---|---|
| IP và gateway | Định danh và cổng đi ra | Không vào mạng, báo không có kết nối Internet |
| DHCP | Cấp IP và thông số mạng | Địa chỉ 169.254.x.x, hoặc báo trùng IP |
| DNS | Đổi tên miền thành IP | Vào được bằng IP nhưng không vào được bằng tên miền |
Cách tự kiểm tra trên Windows
- Mở Command Prompt, gõ ipconfig /all để xem địa chỉ IP, gateway, DHCP và DNS máy đang dùng.
- Gõ ping kèm địa chỉ gateway để thử đến router. Thành công nghĩa là mạng nội bộ ổn.
- Ping một địa chỉ IP công cộng đã biết. Nếu được mà ping tên miền thì lỗi, vấn đề nằm ở DNS.
- Gõ nslookup kèm tên miền để xem máy chủ DNS có trả lời không.
- Gõ ipconfig /flushdns để xóa cache DNS cục bộ, và ipconfig /renew để xin lại địa chỉ từ DHCP.
Hai thiết bị trùng IP gây chập chờn khó hiểu, nên máy chủ, máy in, camera cần IP cố định hoặc cấp theo địa chỉ MAC để tránh trùng với dải DHCP. Với mạng doanh nghiệp, nên có tài liệu ghi lại dải IP, dải DHCP và các IP cố định để xử lý sự cố nhanh.
Đặt IP cố định cho máy in, camera, NAS bằng cách đặt DHCP reservation trên router thay vì gõ tay trên từng thiết bị. Việc quản lý tập trung tránh trùng địa chỉ.
Cần thiết kế hoặc xử lý mạng cho văn phòng? Kỹ thuật viên PCTech hỗ trợ tại TP.HCM.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao máy có Wi-Fi nhưng không vào được web?
Có thể do DNS lỗi, nghĩa là không đổi được tên miền thành IP, hoặc do gateway hay đường truyền Internet. Thử ping một địa chỉ IP công cộng: nếu được mà vào web không được thì kiểm tra cấu hình DNS.
Địa chỉ 192.168.x.x có phải IP của tôi trên Internet không?
Không. Đó là địa chỉ riêng chỉ dùng trong mạng nội bộ. Địa chỉ công cộng mà Internet nhìn thấy thuộc về router hoặc nhà mạng của bạn, và có thể xem bằng các trang kiểm tra IP.
IP tĩnh và IP động khác nhau thế nào?
IP động do DHCP cấp và có thể đổi theo thời hạn thuê, phù hợp máy tính, điện thoại. IP tĩnh được đặt cố định, thích hợp cho máy chủ, máy in, camera cần địa chỉ không đổi để truy cập ổn định.
Nên dùng DNS của nhà mạng hay DNS công cộng?
Cả hai đều dùng được. DNS của nhà mạng thường mặc định. Doanh nghiệp có thể dùng DNS nội bộ để phân giải tên máy chủ trong mạng, kèm DNS công cộng cho tên miền bên ngoài, tùy chính sách.
Bài viết liên quan
- Router là gì? Phân biệt với modem và switch
- NAT và port forward là gì
- Mạng nội bộ văn phòng: thiết kế cơ bản
- Wi-Fi yếu, chập chờn: cách chẩn đoán
- VLAN là gì? Khi nào doanh nghiệp cần